Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) cảm nhận về nhân vật thằng Khờ trong Đá trổ bông

Đề bài: Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) cảm nhận về nhân vật thằng Khờ trong Đá trổ bông

ĐÁ TRỔ BÔNG

Nguyễn Ngọc Tư (1)

Khờ, thằng nhỏ gánh nước đi đằng trước tôi, đang bốc khói. Bằng mắt thường cũng thấy một làn hơi mỏng bả lả gợn quanh nó, nhất là từ đôi ống quần ướt mèm. Nước trong thùng ở hai đầu quang gánh dù không sánh ra chút nào, nhưng cứ nghĩ lên đến đỉnh núi chắc chỉ còn lưng lửng, vì nước bốc hơi. Mình thì có hơn gì, tôi nghĩ, cũng sắp bốc cháy tới nơi rồi…
[…]

Năm Khờ chín tuổi, mẹ dắt nó lên ngọn núi Trời này, bảo ngồi đó đợi đá trổ bông mẹ lên đón. Rồi bà mẹ trẻ xuống núi, biệt dạng. Chị chủ quán nước ngay bên sườn núi vẫn còn nhớ gương mặt cô gái đó, “trẻ măng, đem con đi bỏ mà mặt tỉnh bơ, trửng giỡn(2) với mấy thằng kiếm củi”. Chắc là sớm làm mẹ đơn thân, không mang vác nổi thằng nhỏ khờ căm đặt đâu ngồi đó. Chắc là ngủ quên trên cỏ rồi đẻ Khờ, như những bà mẹ Việt cổ xưa vẫn cấn bầu nhờ uống nước trong gáo dừa, ướm chân vào dấu chân lạ.

Thằng nhỏ từng có cái tên tử tế, nhưng người xóm núi quên mất rồi. Nói cho cùng, làm gì có tên nào hợp với nó, bằng tên Khờ. Trong thân xác thằng con trai sắp ba mươi, là một trí khôn của trẻ con năm bảy tuổi. Thời gian không làm mai một cái niềm tin rồi đá trổ bông, mẹ đón về.
Sống nhờ chén cơm của cư dân triền núi, nhưng Khờ chưa bao giờ làm họ tiếc vì đã nuôi dưỡng mình. Nhờ chi thằng nhỏ cũng làm, và nặng nhọc cỡ nào cũng không than vãn. Mưa nó đi cọ rửa những bậc đá đóng rêu, che giúp mái nhà ai đó, cõng bà Chín Sầu Đâu đi hốt thuốc nam chữa đau khớp, đón thằng Đen kẹt ở trường trong giông gió. Hạn qua nó kiếm củi phơi khô chất đầy miễu(3) hoang, cả xóm xài mút mùa không hết. Mùa khô nào họ cũng uống nước mưa một tay Khờ gánh, từ ngôi chùa gần chân núi Xanh.

Suốt ba chục năm, duy nhất một lần Khờ rời núi chừng tuần lễ. Nó bị sét đánh. Cái đầu trọc của núi mà nó đang chăn giữ, không hiểu sao hay bị sét xuống thăm, đến cây cối không mọc nổi. Bữa đó giông khô, Khờ lom khom gom mớ thuốc nam chùa gửi phơi, thì bị sét quật lăn ra, tóc cháy xém. Câu đầu tiên nó nói khi tỉnh dậy, “đá trổ bông chưa?”

Tới ông trời còn không bứng thằng Khờ ra khỏi mớ đá đó, người núi Xanh nói. Đúng lúc Khờ lại thêm một lượt gánh nữa ngang qua chỗ quán nước tôi ngồi cùng mấy bà trong xóm, nhe răng cười. Ở Khờ không có vẻ gì bơ vơ, dù đang một mình bơi giữa đá và nắng. Ngay khi nó bị che khuất bởi một cua gắt trên đường mòn, cũng để lại cảm giác ấm áp, chắc nịch. Khó giải thích, nhất là nhân vật ấy mang trong mình một câu chuyện mủi lòng.

Hỏi mẹ Khờ có từng quay lại không, người núi Xanh nói biết đâu, giờ nhiều du khách lên đây, mặt mũi ai cũng dáo dác như ai, nhớ sao nổi người phụ nữ mấy chục năm về trước. Thằng nhỏ hay bị du khách ghẹo, họ xưng mẹ nè con, mau về với mẹ. “Mẹ tui nói chừng đá trổ bông mới lên đón, giờ có trổ xíu nào đâu”, Khờ nói. Chỉ một lời dối ầu ơ(4), nhưng với bộ não ngờ nghệch của Khờ, đã thành một thứ dây trói bền dai, buộc nó mãi trên đỉnh núi. Mẹ Khờ có ở đây, chắc gì lay chuyển được nó, đá chưa nở bông nào.

Dân núi Xanh có lần hối tiếc, khi xúm nhau thuyết phục Khờ, rằng đám đá đó đâu thể trổ bông được, sét đánh quá chừng mà, nhìn thì biết, tới cỏ còn không mọc nổi. Khờ nói luôn, vậy mấy cục đá hong bị trời đánh thể nào cũng có bông. Từ bữa đó nó leo trèo khắp núi. Lo bông đá đang trổ ở hang hốc nào đó, nơi nó chưa mò tới. Còn cả xóm thì phấp phỏng sợ nó trượt chân.
Mình mà nói núi này đá đực khó ra bông, Khờ sẽ hỏi, vậy núi nào mới có? Tôi hình dung vậy, khi ngó thằng nhỏ vừa gánh xong đôi nước cuối cùng trong ngày, đổ vào cái khạp da bò đặt ngay đỉnh trọc. Nước ấy dành cho du khách uống đỡ khát. Dù họ chỉ dùng rửa mặt, rửa chân, hắt vào người nhau cho vui.

Nắng vẫn xéo xắt, chưa chịu nguội. Tôi quay lại đúng cái chân núi mà vài tiếng đồng hồ trước mình đứng ngán ngẩm vì nắng và hồ Xanh cạn đáy. Nghĩ chắc cũng không cần trèo lên chi, quá biết trên đó có những thứ gì, lại miễu cậu miễu cô, lại những quán xá đu theo vách đá, lại bày bán mấy thứ thần dược từ cỏ cây meo mốc chớ đâu.

Nhưng Khờ xuất hiện, với đôi thùng nước treo đầu gánh, rủ khơi khơi, lên núi chơi, bông đá nay mai sẽ trổ.

(In trong “Tạp chí Nhà văn và Tác phẩm”, số Xuân Đinh Dậu, 2017)

(1) Nguyễn Ngọc Tư: sinh năm 1976 tại Đầm Dơi, Cà Mau; là nữ nhà văn trẻ của Hội nhà văn Việt Nam.

(2) Trửng giỡn: đùa cho vui

(3) Miễu: miếu nhỏ

(4) Lời dối ầu ơ: nói cho qua

Dàn ý đoạn văn (khoảng 200 chữ) cảm nhận về nhân vật thằng Khờ trong Đá trổ bông

1. Mở đoạn

  • Giới thiệu truyện Đá trổ bông và nhân vật thằng Khờ.

  • Khẳng định Khờ là nhân vật gây ám ảnh, xúc động.

2. Thân đoạn

  • Hoàn cảnh bất hạnh: bị mẹ bỏ rơi, sống cô độc trên núi.

  • Phẩm chất đẹp: hiền lành, cần mẫn, sống vì người khác.

  • Niềm tin “đá trổ bông”: biểu tượng cho sự chờ đợi, thủy chung và bi kịch tinh thần.

  • Nghệ thuật xây dựng nhân vật: chi tiết biểu tượng, giọng văn nhân ái.

3. Kết đoạn

  • Đánh giá ý nghĩa nhân vật.

  • Gợi suy ngẫm về con người, niềm tin và lòng trắc ẩn.

Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) cảm nhận về nhân vật thằng Khờ trong Đá trổ bông

Đoạn văn (khoảng 200 chữ) cảm nhận về nhân vật thằng Khờ trong Đá trổ bông (Mẫu 1)

Thằng Khờ – số phận bất hạnh và niềm tin ngây thơ

Trong truyện ngắn Đá trổ bông, Nguyễn Ngọc Tư đã xây dựng nhân vật thằng Khờ như một số phận vừa đáng thương vừa ám ảnh. Ngay từ nhỏ, Khờ đã bị mẹ bỏ lại trên núi Trời với lời hẹn mơ hồ “đá trổ bông sẽ lên đón”, để rồi sống suốt mấy chục năm trong sự chờ đợi vô vọng. Dù thân xác là người đàn ông gần ba mươi tuổi, trí tuệ của Khờ chỉ dừng lại ở đứa trẻ lên bảy, khiến niềm tin ấy trở thành sợi dây trói buộc cả cuộc đời. Chi tiết “đá trổ bông” không chỉ thể hiện sự ngây thơ đến tội nghiệp mà còn là biểu tượng cho một lời nói dối vô tình nhưng tàn nhẫn của người mẹ. Qua nhân vật Khờ, nhà văn bày tỏ niềm xót xa sâu sắc trước những con người bị bỏ rơi, phải sống cả đời trong ảo vọng, không lối thoát. Hình ảnh ấy khiến người đọc không khỏi nghẹn ngào và day dứt.

Đoạn văn (khoảng 200 chữ) cảm nhận về nhân vật thằng Khờ trong Đá trổ bông (Mẫu 2)

Thằng Khờ – vẻ đẹp của lòng lương thiện và sự hi sinh thầm lặng

Dù mang thân phận thiệt thòi và trí tuệ không trọn vẹn, thằng Khờ trong Đá trổ bông lại hiện lên với vẻ đẹp lương thiện hiếm có. Sống nhờ chén cơm của dân núi Xanh, nhưng Khờ chưa từng khiến ai phải hối tiếc vì đã cưu mang mình. Nó lặng lẽ gánh nước cho cả xóm, che mái nhà khi mưa, gom củi cho mùa hạn, giúp đỡ mọi người bằng tất cả sức lực mà không một lời than vãn. Ngay cả khi bị sét đánh, câu hỏi đầu tiên Khờ thốt lên vẫn là “đá trổ bông chưa?”, một chi tiết vừa ngây ngô vừa đau xót. Qua đó, Nguyễn Ngọc Tư đã khắc họa một con người tuy “khờ” về trí óc nhưng lại “khôn” về tấm lòng. Nhân vật Khờ trở thành biểu tượng cho những con người sống âm thầm, tử tế, cho đi tất cả mà không cần nhận lại, khiến người đọc thêm trân trọng giá trị của lòng nhân hậu.

Đoạn văn (khoảng 200 chữ) cảm nhận về nhân vật thằng Khờ trong Đá trổ bông (Mẫu 3)

Nghệ thuật xây dựng nhân vật thằng Khờ và thông điệp nhân văn

Thành công nổi bật của Đá trổ bông nằm ở nghệ thuật xây dựng nhân vật thằng Khờ giàu tính biểu tượng và cảm xúc. Nguyễn Ngọc Tư không miêu tả Khờ bằng những biến cố dữ dội mà bằng chuỗi chi tiết đời thường: gánh nước, leo núi, chờ đá nở bông. Hình ảnh “đá trổ bông” được lặp đi lặp lại như một biểu tượng nghệ thuật cho niềm tin mù quáng và bi kịch tinh thần của con người. Giọng văn nhẹ nhàng, chậm rãi, giàu chất trữ tình khiến câu chuyện dù buồn nhưng không bi lụy. Qua nhân vật Khờ, nhà văn gửi gắm thông điệp sâu sắc về trách nhiệm của con người với lời nói và tình thương. Một lời hứa vô tâm có thể trói buộc cả đời người khác. Nhân vật Khờ vì thế không chỉ là nỗi đau riêng của núi Xanh mà còn là lời nhắc nhở nhân văn đối với mỗi chúng ta trong cách sống và cách yêu thương.

Đánh giá bài viết

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Xem Chỉ Tay Online