Đề bài: Viết đoạn văn giới thiệu về một lễ hội văn hóa khác mà em biết
Dàn ý Đoạn văn giới thiệu về một lễ hội văn hóa khác mà em biết
1. Mở đoạn
-
Giới thiệu tên lễ hội văn hóa em muốn nói đến (ví dụ: Lễ hội Chùa Hương, Lễ hội Đền Hùng, Lễ hội Cồng chiêng Tây Nguyên…).
-
Nêu khái quát ý nghĩa của lễ hội.
2. Thân đoạn
* Thời gian – địa điểm: Lễ hội diễn ra vào thời gian nào, ở đâu.
* Hoạt động chính
-
-
Các nghi lễ truyền thống (dâng hương, rước kiệu, tế lễ…).
-
Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, trò chơi dân gian, biểu diễn nghệ thuật.
-
* Ý nghĩa
-
-
Gìn giữ truyền thống, tưởng nhớ công ơn tổ tiên/anh hùng dân tộc.
-
Tạo không khí vui tươi, đoàn kết cộng đồng.
-
Quảng bá hình ảnh, nét đẹp văn hóa của quê hương, đất nước.
-
3. Kết đoạn
-
Khẳng định giá trị của lễ hội trong đời sống tinh thần của nhân dân.
-
Bày tỏ cảm xúc, niềm tự hào của em về lễ hội ấy.

Đoạn văn giới thiệu về một lễ hội văn hóa khác mà em biết (Mẫu 1)
Trong đời sống tinh thần của người Việt Nam, lễ hội Đền Hùng và Giỗ Tổ Hùng Vương luôn là một điểm tựa văn hóa thiêng liêng. Hằng năm, vào ngày 10 tháng 3 âm lịch, lễ hội được tổ chức tại Phú Thọ với quy mô trang trọng, gồm hai phần: lễ và hội. Phần lễ có các nghi thức rước kiệu, dâng hương tưởng nhớ các vua Hùng – những bậc tiền nhân đã dựng nên nước nhà. Phần hội diễn ra sôi nổi với nhiều hoạt động văn hóa đặc sắc như hát xoan, hát ghẹo, đánh trống đồng, trò chơi dân gian, tạo nên không khí tưng bừng, gắn kết cộng đồng. Ngoài ra, nhà Bảo tàng Hùng Vương cũng là nơi lưu giữ nhiều hiện vật quý, giúp du khách hiểu thêm về thời đại dựng nước. Lễ hội Đền Hùng không chỉ thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn” mà còn khơi dậy niềm tự hào dân tộc, trở thành nét đẹp văn hóa không thể thiếu trong tâm thức người Việt.
Đoạn văn giới thiệu về một lễ hội văn hóa khác mà em biết (Mẫu 2)
Đấu vật là trò vui dân gian quen thuộc trong lễ hội đầu xuân ở quê em. Sân đấu thường là bãi đất rộng, bằng phẳng, giữa có trải bạt vẽ hai vòng tròn đồng tâm làm ranh giới. Người tham gia là những trai tráng khỏe mạnh, cường tráng đến từ nhiều làng xã. Ngày hội đến, dân làng nô nức kéo nhau ra sân đình, quây kín xung quanh để cổ vũ. Các đô vật mình trần, chỉ mặc quần ngắn nhiều màu để phân biệt. Khi tiếng còi khai trận vang lên, họ nhanh chóng lao vào nhau, ra sức quật ngã đối phương. Cả sân đấu rộn ràng trong tiếng trống, tiếng reo hò, vỗ tay không ngớt. Sau những phút giằng co quyết liệt, người thắng cuộc được vang dội hoan hô. Cả buổi chiều, những trận đấu gay cấn nối tiếp nhau, đem lại niềm vui háo hức cho mọi người. Em mong rằng lễ hội đấu vật này sẽ mãi được gìn giữ mỗi độ xuân về.
Đoạn văn giới thiệu về một lễ hội văn hóa khác mà em biết (Mẫu 3)
Cứ mỗi mùa xuân đến, làng em lại tổ chức lễ hội mừng xuân, trong hội có rất nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn, nhưng em ấn tượng nhất là trò đánh đu. Trò chơi được tổ chức trong sân của đình làng, những người đi xem hội ai cũng ăn vận đẹp đẽ và lịch sự, trên khuôn mặt mỗi người ai nấy đều mang thần sắc vui tươi, hớn hở. Cột đu được dựng lên từ những cây tre to, chắc khỏe dẻo dai có thể chịu được sức nặng của 3-4 người mà không bị gãy. Có nhiều cách chơi đu, đánh đu đơn hoặc đôi, riêng làng em chọn cách đánh đu đôi nam nữ để thể hiện tinh thần đoàn kết giữa những người trong đội với nhau và tăng sự hứng thú, hấp dẫn. Lần lượt các đội chơi vào đánh đu theo thứ tự đã bốc thăm trước đó, hai người chơi bước lên bàn đu, đối mặt với nhau, sau đó dùng sức của đôi chân để nhún cho đu bay cao, bay thật đẹp mắt, điệu nghệ, trong tiếng trống gõ liên hồi cùng với sự hò reo cổ vũ rộn ràng của người xem. Đội nào làm cho đu bay càng cao, càng gần đỉnh đu, thậm chí nếu khéo léo có thể khiến bàn đu bay qua ngọn đu một vòng thì cơ hội thắng cuộc sẽ rất cao. Trò chơi này yêu cầu sự phối hợp nhịp nhàng của cả hai người chơi, kèm theo đó là yếu tố về sức khỏe và một chút dũng cảm bởi vì đây là một trò chơi khá mạo hiểm, mà không phải ai cũng có đủ can đảm để thử. Trò chơi vốn là một phần không thể thiếu của hội làng mừng xuân, góp phần làm cho không khí tết thêm tưng bừng, rộn rã, dân làng càng thêm yêu thương, gắn bó với quê hương.
Đoạn văn giới thiệu về một lễ hội văn hóa khác mà em biết (Mẫu 4)
Từ nhỏ, em đã từng được tham gia rất nhiều lễ hội thú vị và ấn tượng. Nhưng lễ hội khiến em thích thú nhất chính là lễ hội Cầu ngư. Lễ hội Cầu ngư được chuẩn bị hết sức cầu kì và cẩn thận, thể hiện sự thành kính và quan tâm của người dân nơi đây. Vào ngày tổ chức lễ hội, có rất đông người dân và khách du lịch đến xem và tham gia. Lễ hội Cầu ngư bắt đầu diễn ra từ lúc sáng sớm, với nghi thức Nghinh Ông. Hoạt động chính của nghi thức này, chính là việc rước kiệu Ông Nam Hải ra biển để lên thuyền rồng ra khơi. Những người được chọn để khiêng kiệu được tuyển chọn kĩ lưỡng, đều phải là thanh niên khỏe mạnh. Dọc đường kiệu di chuyển, người dân đứng thành hàng, dâng lễ vật và hương khói nghi ngút. Ra đến bờ biển, sẽ có sẵn mười lăm chiếc ghe xếp thành hình chữ V hướng ra biển, đầu mỗi ghe chuẩn bị lễ vật tươm tất. Đoàn ghe sẽ đi về phía Lăng Ông, trước cửa lăng có đoàn múa lân rất rộn ràng để đón chào. Ngoài ra, lễ hội Cầu Ngư còn có hoạt động được rất nhiều người thích thú, đó chính là lễ sắc phong. Lễ gồm có hai đám rước, một đám đi từ phía Bắc, một đám đi từ phía Nam, cùng di chuyển về phía Lăng Ông. Dẫn đầu đoàn là đội múa lân, sư, rồng với âm thanh rộn ràng, điệu nhảy đẹp mắt. Phía sau, là những mô hình thuyền lớn, được trang trí bắt mắt, cầu kì. Thuyền có chở vài người ngư dân làm động tác mô phỏng cách chèo thuyền. Đặc biệt, mô hình chiếc thuyền đấy, được di chuyển nhờ khoảng hơn hai mươi thanh niên trai tráng vác ở phía dưới. Thật là tuyệt vời. Đến với lễ hội Cầu ngư, em được chiêm ngưỡng những hoạt động ý nghĩa, được tham gia vào dòng người nô nức xem hội. Em mong rằng, những ngày hội như thế này sẽ được bảo tồn và duy trì mãi về sau.
