Đề bài: Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích, đánh giá sự phù hợp của người kể chuyện, điểm nhìn trong việc thể hiện chủ đề của đoạn trích trong bài Hòn Đất
HÒN ĐẤT (trích)
(Anh Đức)
(Tóm lược phần đầu: Chuyện kể về cuộc chiến đấu chống bọn Mỹ ngụy của nhân dân Hòn Đất. Sau trong một trận chống giặc càn, mười mấy dân quân du kích đã rút lui vào hang Hòn, tiếp tục chiến đấu. Trong số họ, có Hai Thép, Ba Rèn, anh Ngạn, cô Quyên, chị Sứ… Chị Sứ là người con của Hòn Đất. Chồng tập kết ra Bắc, chị dành mọi yêu thương cho con, cho mẹ và cùng chiến đấu với bà con Hòn Đất. Chị từng bị kẻ thù bắt, nhốt vào “chuồng cọp”, “chuồng sấu”, bị chúng ép làm đơn li khai chồng. Kẻ thù huy động lực lượng bao vây tấn công ác liệt, chặn tiếp tế lương thực, bỏ thuốc vào nguồn nước để đầu độc người trong hang Hòn. Giữa lúc hiểm nghèo, chị Sứ liều mình đi lấy nước cho mọi người. Không may chị bị giặc phục kích bắt được. Chúng treo chị Sứ lên ngọn cây dừa, bắt mẹ chị – mẹ Sáu tới, ép buộc bà khuyên con đầu hàng…)
(1) Sứ trông thấy đôi tay nghều ngào, mái tóc bạc trắng bay xõa của mẹ. Và chiếc khăn rằn đỏ trên vai mẹ chị rơi xuống đất. Còn mấy bước nữa đến chỗ Sứ, mẹ không đi được nữa, chân mẹ lóng cóng, khuỵu xuống. Nhưng mẹ nhổm lên, chạy tới. Cuối cùng, Sứ nhận ra đôi tay mẹ lập cập quàng lấy bắp chân mình. Liền đó, chị nghe sao bắp chân mình ướt nóng, giàn giụa. Tiếng mẹ chị bắt đầu nấc lên ở bên dưới, nghẹn tắt. Sứ mở to mắt, nhìn xuống mái tóc bạc phơ và đôi vai gầy của mẹ đang rung rung. Lòng đau điếng, Sử ngoảnh nhìn nơi khác. Đôi mắt Sứ vụt đỏ hoe không chớp. Nhưng Sứ cố nén để nước mắt khỏi trào ra. Sứ muốn khóc nhưng chị cưỡng lại. Chị không muốn để bọn giặc hiểu lầm một lần nữa và để mẹ mình khỏi đau đớn thêm. Chị hồi hộp mong sao mẹ đừng thốt lên một lời nào, đừng nói một tiếng nào. Giữa lúc này, chị mong mẹ cứ im lặng và thương chị, mẹ hãy cứ ôm chị thế đó, như ngày nào chị còn bé dại. Nhưng chị cũng đã tính, nếu như vì quá thương chị mà mẹ lỡ nói với chị lời nói không phải, thì chị cũng không nghe được đâu. Nhưng như vậy ắt chị sẽ đau đớn. Thật là chưa bao giờ, chưa có lần nào, Sứ phải riết giữ lòng mình một cách quyết liệt như thế. Cũng chưa lần nào chị có cái cảm giác xao xuyến lạ lùng đến thế. Đôi tay đó, khuôn mặt đó giờ đang áp vào chân chị, truyền khắp người chị một tình yêu giãy giụa.
(2) Hơn cả con mình, mẹ Sáu còn oằn oại gấp bội. Hai mươi bảy năm đẻ con ra và nuôi con lớn lên, mẹ đã nặn vắt từng giọt sữa, chắt chiu từng tấm áo. Đôi chân thon thả treo lơ lửng này đây, chính mẹ là người trông thấy nó cất bước đi chập chững đầu tiên, Còn suối tóc mượt mà rủ xuống tới vai mẹ đây, chính mẹ cũng đã vuốt ve khi nó hãy còn lơ thơ bệt dính trên đầu. Rồi những tiếng ngọng nghịu, rồi những ngày mẹ lâm vào cảnh góa bụa, chính đứa con gái này đã cảm hiểu và đỡ đần cho mẹ nhiều nhất trong những năm tháng gieo neo. Mà lúc lớn lên, đứa con ấy nào có sung sướng gì cho cam! Nó lại cun cút nuôi con. Đời mẹ thế nào, đời con gái lớn mẹ cũng thế ấy. Một đứa con như thế mà lại phải dứt ra, mẹ Sáu không đau lòng sao được.
Nhưng muốn giữ lấy con, mẹ càng không thể nói những lời bọn giặc buộc mẹ nói. Thiêng liêng hơn đứa con mang nặng đẻ đau đó còn cả xóm làng này, còn cả cái hang đang chống trả quyết liệt này. Thiêng liêng hơn đứa con của mẹ là cuộc cách mạng mà mẹ suốt đời tin tưởng và gắn bó.
– Bà già, bà nói đi! Nếu bà muốn cho con bà sống thì bà nói sao cho nó nghe đó thì nói!
Thằng thiếu tá đứng bên lại nhắc. Đôi chân hắn rậm rịch cứ như giẫm lên ổ kiến lửa. Thình lình, Sứ bỗng thấy mẹ buông rời chân mình ra. Mẹ chị day qua phía thằng thiếu tá. Sứ nghe rõ từng tiếng mẹ mình nói:
– Con tôi lớn rồi, nó có trí khôn của nó… Ý nó muốn sao xin cứ để nó liệu lấy!
Nghe mẹ nói thế, Sứ chịu không nổi nữa, nước mắt chị trào ra, chảy ròng ròng.
(Trích tiểu thuyết Hòn Đất của Anh Đức, NXB Văn học, 2006, tr.212-213-214)
* Chú thích:
Anh Đức, tên thật là Bùi Đức Ải (1935 – 2014), là cây bút tiêu biểu của nền văn xuôi cách mạng miền Nam thời kỳ chống Mỹ. Ông thành công với những tác phẩm hồi kí, truyện ngắn, tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh. Văn phong ông giản dị, giàu cảm xúc và đậm chất Nam Bộ. Hòn Đất là cuốn tiểu thuyết của Anh Đức, được hoàn thành vào năm 1965. Tác phẩm khai thác đề tài cuộc chiến đấu anh dũng của quân và dân huyện Châu Thành, tỉnh Rạch Giá (cũ) chống lại đế quốc Mỹ và tay sai.
Dàn ý đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích, đánh giá sự phù hợp của người kể chuyện, điểm nhìn trong việc thể hiện chủ đề của đoạn trích trong bài Hòn Đất
1. Mở đoạn
-
Giới thiệu tiểu thuyết Hòn Đất (Anh Đức) và đoạn trích về chị Sứ – mẹ Sáu.
-
Nêu vấn đề: Người kể chuyện ngôi thứ ba kết hợp điểm nhìn linh hoạt đã góp phần thể hiện sâu sắc chủ đề ca ngợi tình mẫu tử gắn với lý tưởng cách mạng.
2. Thân đoạn
a. Người kể chuyện ngôi thứ ba – khách quan mà giàu cảm xúc
-
Giúp bao quát toàn cảnh: không gian, hành động, đối thoại giữa Sứ – mẹ Sáu – kẻ thù.
-
Tạo độ tin cậy, làm nổi bật tình huống bi kịch căng thẳng.
b. Điểm nhìn tập trung vào nội tâm nhân vật
-
Chủ yếu đặt vào chị Sứ: nỗi đau, sự giằng xé, quyết tâm.
-
Sau đó chuyển sang mẹ Sáu: hồi ức nuôi con, xung đột giữa tình riêng và nghĩa lớn.
-
Làm nổi bật vẻ đẹp anh hùng và chiều sâu tâm lý.
3. Kết đoạn
-
Đánh giá: Cách lựa chọn người kể chuyện và điểm nhìn phù hợp, góp phần làm sáng tỏ chủ đề: tình mẫu tử hòa quyện với tinh thần cách mạng.
Đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích, đánh giá sự phù hợp của người kể chuyện, điểm nhìn trong việc thể hiện chủ đề của đoạn trích trong bài Hòn Đất (Mẫu 1)
Trong đoạn trích Hòn Đất, việc lựa chọn người kể chuyện ngôi thứ ba là hoàn toàn phù hợp để thể hiện chủ đề ca ngợi phẩm chất anh hùng của người phụ nữ Nam Bộ. Ngôi kể này cho phép tác giả bao quát toàn bộ tình huống bi kịch: chị Sứ bị treo lên cây, mẹ Sáu bị ép buộc khuyên con đầu hàng, kẻ thù hung hãn đứng bên đe dọa. Từ vị trí trần thuật khách quan, người kể chuyện vừa miêu tả hành động, vừa đi sâu vào cảm xúc: “Lòng đau điếng, Sứ ngoảnh nhìn nơi khác”, “mẹ Sáu còn oằn oại gấp bội”. Nhờ đó, người đọc không chỉ chứng kiến sự việc mà còn thấu hiểu chiều sâu tâm lý nhân vật. Cách kể này làm nổi bật xung đột giữa tình mẫu tử và lý tưởng cách mạng, đồng thời tôn vinh vẻ đẹp kiên cường của những con người bình dị. Chủ đề về lòng trung thành với cách mạng vì thế được thể hiện một cách tự nhiên, thuyết phục và giàu xúc động.
Đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích, đánh giá sự phù hợp của người kể chuyện, điểm nhìn trong việc thể hiện chủ đề của đoạn trích trong bài Hòn Đất (Mẫu 2)
Điểm nhìn trần thuật trong đoạn trích được đặt chủ yếu vào nhân vật chị Sứ, qua đó làm nổi bật sự giằng xé nội tâm dữ dội của người chiến sĩ. Người đọc cảm nhận rõ từng rung động tinh tế: Sứ “muốn khóc nhưng chị cưỡng lại”, “riết giữ lòng mình một cách quyết liệt”. Điểm nhìn ấy giúp tái hiện tâm trạng đau đớn khi chứng kiến mẹ quỵ ngã dưới chân mình, nhưng đồng thời cũng cho thấy bản lĩnh kiên cường của chị. Sứ không muốn “để bọn giặc hiểu lầm”, không để tình riêng làm lung lay ý chí. Sự tập trung vào nội tâm nhân vật khiến chủ đề tác phẩm được khắc sâu: người chiến sĩ cách mạng phải vượt lên tình cảm cá nhân để bảo vệ lý tưởng chung. Chính nhờ điểm nhìn này, hình tượng chị Sứ hiện lên vừa gần gũi, giàu cảm xúc, vừa cao cả, anh hùng, tạo nên sức lay động mạnh mẽ cho đoạn văn.

