Đề bài: Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích những nét đặc sắc về nghệ thuật được sử dụng trong đoạn trích Tuyển tập phóng sự: Những cự li thương mến
Đất có tuần nhân có vận ( nữa là biển cả mênh mông… Những căn nhà giàn, những cái chòi canh chủ quyền ấy không thể kém an toàn và tạm bợ được. Có một buổi sóng lặng, tôi ngồi với thiếu tướng Nguyễn Nam, Chính uỷ Bộ Tư lệnh Công binh, thành viên Đoàn công tác. Có nhiều người từng tấm tắc lẫn phàn nàn rằng công binh là một nghề bí hiểm và lãng mạn?! […] Chuyện với tướng Nam thú vị bởi cứ chấp chới giữa lằn ranh cái nói được và không nói được như thế… Từ năm 1946, cụ thể là ngày 25-3, Bác Hồ đã kí Sắc lệnh thành lập Giao thông Công chính Cục, gọi là Cục Công binh.
Tôi cố mường tượng ra trong các cuộc kháng chiến, ngành công binh với hàng trăm công trình phục vụ cho quốc phòng lẫn dân sinh, những công trình A, B, C,… này khác giăng suốt từ Bắc đến Nam. Công việc chỉ đơn thuần là đào với đắp, tinh những là thứ thổ mộc, ấy vậy mà bí hiểm lẫn lãng mạn sao? Có lẽ sẽ hằn rất lâu trong tâm trí những người đã từng được một lần may mắn đặt chân đến những khu nhà xây trên phần nổi của những đảo chìm của quần đảo Trường Sa. Có lẽ vì nó ấn tượng? Vị trí những nơi quần cư cho những người lính giữ đảo chìm có lẽ hiện nay là đời thứ ba, thứ tư gì đó. Thời kì đầu tiên chỉ là những cái cọc bê tông (có nơi dùng cọc gỗ) cắm xuống nền san hô, trên bắc hoặc thưng ván hoặc bạt.
“Lều bạt chung chiêng giữa nước, giữa trời. Đến một cái gai cũng không sống được”. Thơ của Trần Đăng Khoa như một thứ lí lịch trích ngang hệ thống lẫn lịch sử nhà cửa của đảo chìm Trường Sa. Bây giờ qua một số đảo chìm, có đảo vẫn để nguyên cái nhà gỗ hoặc bê tông lều bạt ấy dáng chừng lưu lại làm kỉ niệm; có đảo đã dỡ phá chỉ còn sót lại mấy cái cọc lênh khênh, có đảo thì phá trụi để lấy nền cho thế hệ nhà thứ ba bây giờ. Thế hệ thứ hai đã có sự can dự của công binh, chủ yếu là công binh của hải quân đảm trách. Đó là những công trình nói là lô cốt cũng được vì nó bít bùng bê tông chỉ hở ra những khung cửa na ná như lỗ châu mai). Trong đó chia ra những ô bê tông dùng cho việc sinh hoạt lẫn phòng thủ. Loại nhà kiêm lô cốt như thế hiện vẫn còn. Thế hệ thứ ba, biết nói như thế nào nhỉ, tạm gọi là một tổ hợp kiến trúc, nói chung cũng bắt mắt giữa dân sinh lẫn quốc phòng. Từ xa ngó như cái nhà, màu trắng ba đến bốn tầng đột ngột nhô giữa đại dương. Nhà có cửa giả, có các phòng làm việc sinh hoạt hội họp, có những ô cửa trổ ra các hướng hình như tiện cho cả việc bố phòng lẫn phong thủy. Tôi biết ngó bắt mắt là thế nhưng gì thì gì phải chịu được bão gió cấp cao nhất, lại cả động đất nữa. Rồi bên dưới tầng san hô kia, móng tất nhiên rồi nhưng cũng có thể là bể chứa nước ngọt hay công sự phục vụ cho việc phòng thủ này khác. Nhiều tiện ích lẫn phải kiên cố như thế cần có sự can dự kha khá của ngành công binh quốc gia vào việc thiết kế xây cất những thế hệ thứ ba của nhà ở các đảo chìm Trường Sa. Không biết mai kia có thế hệ nhà thứ bốn, thứ năm nữa không thì chịu!
(In trong Tuyển tập phóng sự: Những cự li thương mến, NXB Thanh niên, Hà Nội, 2013)
Dàn ý đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích những nét đặc sắc về nghệ thuật được sử dụng trong đoạn trích
1. Mở bài
-
Giới thiệu thể loại phóng sự và tập Những cự li thương mến.
-
Khái quát đoạn trích viết về công binh và các thế hệ nhà ở đảo chìm Trường Sa.
-
Nhấn mạnh: đoạn trích nổi bật ở nghệ thuật trần thuật, ngôn ngữ giàu hình ảnh và giọng điệu linh hoạt.
2. Thân bài
a. Nghệ thuật trần thuật linh hoạt, giàu chất suy tư
-
Đan xen kể – tả – bình luận.
-
Giọng điệu chấp chới giữa “nói được và không nói được”.
-
Sử dụng câu hỏi tu từ, độc thoại nội tâm.
b. Ngôn ngữ giàu hình ảnh, so sánh, liên tưởng độc đáo
-
Hình ảnh “lều bạt chung chiêng giữa nước, giữa trời”.
-
So sánh, ẩn dụ: “như cái nhà… nhô giữa đại dương”.
-
Sự đối lập giữa tạm bợ – kiên cố qua các thế hệ nhà.
c. Kết hợp chất báo chí và chất trữ tình
-
Dẫn chi tiết lịch sử (Sắc lệnh 1946).
-
Đan xen thơ Trần Đăng Khoa.
-
Cảm xúc cá nhân của người viết.
3. Kết bài
-
Khẳng định giá trị nghệ thuật làm nổi bật vẻ đẹp của công binh và ý nghĩa chủ quyền biển đảo.
-
Góp phần tạo nên sức hấp dẫn riêng cho phóng sự.
Đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích những nét đặc sắc về nghệ thuật được sử dụng trong đoạn trích (Mẫu 1)
Một trong những nét đặc sắc nghệ thuật của đoạn trích là nghệ thuật trần thuật linh hoạt, giàu chất suy tư. Tác giả không chỉ cung cấp thông tin về ngành công binh và các thế hệ nhà ở đảo chìm Trường Sa mà còn đan xen những suy nghĩ, cảm xúc rất riêng. Cách kể chuyện “chấp chới giữa lằn ranh cái nói được và không nói được” tạo nên sắc thái vừa gợi mở vừa sâu lắng, đúng chất phóng sự về vấn đề quốc phòng nhạy cảm. Các câu hỏi tu từ như “bí hiểm lẫn lãng mạn sao?” hay “biết nói như thế nào nhỉ” khiến lời văn trở nên tự nhiên, gần gũi, thể hiện dòng suy tưởng liên tục của người viết. Giọng điệu khi thì nghiêm trang, khi lại pha chút hóm hỉnh, bâng khuâng, tạo nên sự sinh động cho bài viết. Chính lối trần thuật ấy đã giúp đoạn phóng sự vượt khỏi tính chất thông tin đơn thuần để trở thành một trang viết giàu chiều sâu tư tưởng và cảm xúc.

Đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích những nét đặc sắc về nghệ thuật được sử dụng trong đoạn trích (Mẫu 2)
Đoạn trích gây ấn tượng mạnh bởi ngôn ngữ giàu hình ảnh và sức gợi cảm. Tác giả miêu tả các thế hệ nhà trên đảo chìm bằng những chi tiết cụ thể, chân thực nhưng vẫn giàu chất tạo hình. Hình ảnh “lều bạt chung chiêng giữa nước, giữa trời” được trích từ thơ Trần Đăng Khoa vừa khắc họa sự mong manh, tạm bợ của thời kì đầu, vừa gợi cảm giác khắc nghiệt của thiên nhiên biển đảo. Sang thế hệ thứ ba, những ngôi nhà “màu trắng ba đến bốn tầng đột ngột nhô giữa đại dương” hiện lên vừa hiện đại vừa hiên ngang. Sự đối lập giữa cái “lênh khênh”, “chung chiêng” với những công trình “bít bùng bê tông” tạo nên chiều sâu lịch sử và cảm xúc. Nhờ hệ thống hình ảnh sinh động ấy, người đọc không chỉ hình dung rõ nét sự thay đổi của công trình mà còn cảm nhận được ý chí bền bỉ của con người trước biển cả mênh mông.
