Đề bài: Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích tình cảnh của lão Sửu trong đoạn trích Một tiệc ăn vạ
MỘT TIỆC ĂN VẠ
(Ngô Tất Tố)
[…]
Người làng ở trong các xóm, lũ lượt kéo ra con đường giữa làng, già có, trẻ có, con nít cũng có. Trái lại với quang cảnh của đoạn đường lúc nãy, ở đây rất nhiều đàn ông, thỉnh thoảng mới có một người đàn bà. Với những tiếng cười cười, nói nói, vui như đám hội, người ta đổ xô về nẻo cuối làng. Xen lộn vào sự xôn xao của đám đông người, ở trong các xóm, lại có tiếng lợn eng éc. “Không phải là chuyện đánh nhau, trói nhau, có lẽ người ta sắp sửa có cuộc ăn uống. Phải rồi, hôm nay đàn ông vì bận ăn uống, nên mới nhường hết quyền đi chợ Đình cho bọn đàn bà, đoạn này toàn là đàn ông”, tôi vừa cải chính cái câu của tôi phỏng đoán mới rồi, vừa im lặng đi theo một con đường với lũ người ấy. Và tôi đã từ biệt họ khi đến khỏi đình: họ tấp nập kéo vào điếm đình, tôi thì rẽ sang nhà Khóa Trúc, người bạn đồng học với tôi năm xưa. Bởi vì chúng tôi có hẹn trước nên lúc ấy anh Trúc đương vơ vẩn đón tôi ở chỗ đầu ngõ. Đường đi tuy rằng hơi xa, nhưng nhà anh này lại ở kề với sân điếm và chỉ cách khu điếm một bức rào bằng găng tây. Vào ngồi trong nhà anh ấy, tôi còn thấy rõ hết thảy cảnh tượng trong điếm.
Cái điếm rộng quá! Ngoài một tòa chính ở giữa lại có hai tòa giải vũ kèm ở hai đầu, mỗi tòa độ bốn năm gian. Đám người lúc ny lần lượt tiến vào đến cửa điếm. Các ông già và người cao tuổi lên thẳng tòa chính, còn người ít tuổi và đám con nít thì xuống hai tòa giải vũ. Giây lát, ba bọn đàn ông lực lưỡng khiêng ba con lợn bị trói đặt vào trước sân, và một lũ người khác mang tới đó đủ hết các thứ: bát, đĩa, dao, thớt, rổ, rá và nồi ba mươi. Rồi bọn này bắc nồi đun nước, bọn kia đè lợn chọc tiết.
Bắt đầu câu chuyện, tôi phải hỏi ngay anh Trúc:
– Đám ấy là đám gì, đám gì mà có đủ từ ông bạc đầu đến lũ trẻ con!
Anh Trúc mỉm cười đáp:
– Đó là một đám ăn vạ!
Rồi vừa pha nước, anh ấy vừa tiếp:
– Cái tục ăn vạ, thiên hạ cũng nhiều nơi có. Nhưng mà có lẽ không đâu nặng bằng làng tôi. Bởi vì theo lệ làng tôi, quyền hành của bốn “trùm nhất” lớn lắm, bao nhiêu công việc trong làng đều do bọn họ quyết định, lý dịch cũng phải theo họ. Người nào cưỡng lại với họ là họ sẽ tìm cách ăn vạ.
Như thấy tôi không hiểu “ăn vạ” là gì, anh Trúc uống cạn chén nước rồi thêm:
– Chắc anh chưa được chứng kiến cuộc ăn vạ nào thì phải! Có gì đâu, người nào có lỗi với “làng” thì “làng” cứ việc mua lợn, mua rượu, mua gạo đem ra điếm làng mà ăn. Phí tổn bao nhiêu, người có lỗi đó phải chịu. Hôm nay họ ăn vạ lão Sửu. Tội nghiệp! Lão ấy hiền lành, thật thà nhất làng tôi đấy! Chỉ vì nhà đã lép vế, lại có bát ăn, một hôm một ông trong bốn ông “trùm” đến nhà hỏi vay gánh lúa, lão ta đi vắng, mụ vợ chối là không có, ông trùm kia lấy làm thù, cách vài hôm sau hắn mượn việc làng sinh sự cãi nhau với lão ấy, rồi hắn vu cho lão ta chửi làng và đem chuyện đó trình “làng”. “Làng” là bọn đó chứ có ai đâu! Chúng với hắn cũng như một đào một kép, cho nên khi thấy hắn trình, chúng liền hùa nhau bắt vạ lão Sửu.
Anh Trúc rót chén nước nữa cho tôi, rồi tỏ vẻ ái ngại:
– Cuộc ăn vạ này, chúng làm hại lão ta đến hơn trăm bạc. Bởi vì chúng ăn to lắm, ăn suốt từ trên đến dưới. Những đứa con nít toét mắt, ỏng bụng mà anh thấy đó, cũng đều được ăn tất cả. Chúng nó cũng là “làng”. Hễ ai là “làng”, hôm nay đều được ra ăn, chỉ trừ đàn bà và những trẻ con ẵm ngửa.
Tôi vẫn chưa hiểu:
– Thế thì những tiền mua lợn, mua rượu, mua gạo đó ai ứng ra cho làng?
Anh Trúc trả lời:
– Chẳng ai phải ứng hết thảy, họ đi mua chịu tất cả. Mà hễ họ đã hỏi mua, thì ai cũng bán. Bởi vì bán chịu cho “làng” như thế, sau này có thể tính với khổ chủ một giá rất cao và tính bao nhiêu, khổ chủ phải trả bấy nhiêu, không được bớt xén một đồng nào hết.
– Nếu như khổ chủ không chịu thì sao?
– Khổ chủ không chịu thì họ phải lấy tiền làng mà chi. Nhưng rồi họ sẽ họp làng tại đình, đóng chiếc đinh cù vào cột đình và phát thệ rằng: “Nhà ấy đã không thèm tuân lệ làng, từ sau trở đi, những lúc làng có ăn uống, không ai được ngồi với người nhà ấy, và rồi nhà ấy có người nào chết, bất kỳ đàn ông, đàn bà, họ xa, họ gần, làng sẽ không khiêng”. Ở thôn quê, cái người lúc sống không ai ngồi với, lúc chết làng không khiêng cho, là người cực nhục, sống cũng như chết. Vì vậy từ xưa đến nay, họ đã ăn vạ người nào, người ấy cứ phải bán nghiệp mà trả. Không ai dám bướng.
Anh ta đương nói, thì ở bên điếm, có tiếng nói lớn:
– Thưa “chạ”! Hôm nay từ trên già lão đến dưới trai đinh, tất cả hơn hai trăm suất, ăn ba con lợn có lẽ không đủ, xin “chạ” cho bắt thêm một con nữa.
Thế rồi, một lúc sau, lại nghe có tiếng lợn kêu. Cuộc ăn uống linh đình mãi đến quá trưa mới tan.
Chiều hôm ấy, tôi còn ở đó, đã có tin nói lão Sửu thắt cổ chết ở trong nhà, lý dịch còn đi khất quan về khám.
(Trích “Một tiệc ăn vạ” – Ngô Tất Tố, in trong Việc làng và các tập phóng sự, Cao Đắc Điểm & Ngô Thị Thanh Lịch sưu tầm, biên soạn, chú giải, NXB Văn hóa – Thông tin, 2008)
(1) Viên đạn cu ly: viên bi thủy tinh mà trẻ con thường chơi.
Dàn ý đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích tình cảnh của lão Sửu trong đoạn trích Một tiệc ăn vạ
1. Mở vấn đề
-
Giới thiệu tác phẩm Một tiệc ăn vạ và hoàn cảnh nhân vật lão Sửu.
-
Nêu vấn đề: tình cảnh bi thảm, oan khuất của lão Sửu.
2. Thân vấn đề
-
Lão Sửu là người nông dân hiền lành, thấp cổ bé họng.
-
Bị cường hào, lệ làng áp bức bằng hủ tục “ăn vạ”.
-
Bị dồn đến bước đường cùng về tinh thần và kinh tế.
3. Kết vấn đề
-
Cái chết của lão Sửu là bi kịch đau xót.
-
Thể hiện giá trị hiện thực và phê phán sâu sắc của tác phẩm.

Đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích tình cảnh của lão Sửu trong đoạn trích Một tiệc ăn vạ (Mẫu 1)
Trong đoạn trích Một tiệc ăn vạ, Ngô Tất Tố đã khắc họa tình cảnh vô cùng bi thảm của lão Sửu – một người nông dân hiền lành, thật thà nhưng bị dồn đến bước đường cùng. Lão không gây ra tội lỗi nghiêm trọng nào, chỉ vì một chuyện vay lúa nhỏ nhặt mà trở thành nạn nhân của bọn trùm làng độc ác. Hủ tục “ăn vạ” đã biến lão thành người gánh chịu toàn bộ chi phí cho một cuộc ăn uống linh đình của cả làng. Hơn trăm bạc – số tiền vượt quá khả năng của một người nông dân nghèo – trở thành gánh nặng không thể gánh nổi. Không chỉ bị bóc lột về vật chất, lão Sửu còn bị chà đạp về danh dự và tinh thần. Trước sức ép của lệ làng hà khắc và sự đe dọa bị cô lập khỏi cộng đồng, lão hoàn toàn không có con đường phản kháng. Bi kịch của lão Sửu là minh chứng đau xót cho số phận người nông dân trong xã hội phong kiến thối nát.
Đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích tình cảnh của lão Sửu trong đoạn trích Một tiệc ăn vạ (Mẫu 2)
Tình cảnh của lão Sửu trong Một tiệc ăn vạ thể hiện rõ thân phận thấp cổ bé họng của người nông dân dưới ách thống trị của cường hào và hủ tục làng xã. Lão Sửu vốn là người hiền lành, thật thà, không gây thù chuốc oán với ai, nhưng chính sự hiền lành ấy lại trở thành điểm yếu để kẻ xấu lợi dụng. Chỉ vì mâu thuẫn với một ông trùm làng, lão bị vu vạ và phải gánh chịu một cuộc “ăn vạ” tàn nhẫn. Cuộc ăn ấy không chỉ là sự lãng phí vô nhân đạo mà còn là hình thức trừng phạt dã man về tinh thần. Lão Sửu bị ép trả tiền trong nỗi sợ hãi và nhục nhã, không dám chống lại vì sợ bị làng ruồng bỏ. Khi mọi lối thoát đều bị chặn đứng, lão đã chọn cái chết để giải thoát. Số phận của lão Sửu là lời tố cáo đanh thép đối với bộ máy làng xã phi nhân tính thời bấy giờ.
Đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích tình cảnh của lão Sửu trong đoạn trích Một tiệc ăn vạ (Mẫu 3)
Bi kịch của lão Sửu trong đoạn trích Một tiệc ăn vạ là kết quả của sự kết hợp giữa cường quyền và hủ tục phong kiến. Cuộc “ăn vạ” được tổ chức rình rang, đông đủ từ già đến trẻ, mang dáng dấp của một ngày hội nhưng thực chất lại là hành vi bóc lột trắng trợn. Lão Sửu trở thành “khổ chủ”, phải trả giá cho bữa ăn của cả làng dù bản thân không hề có lỗi. Điều đáng sợ hơn cả là sức mạnh tinh thần của lệ làng: sự đe dọa bị cô lập, bị tước quyền làm người trong cộng đồng. Trước nỗi nhục “sống không ai ngồi với, chết làng không khiêng”, lão Sửu hoàn toàn tuyệt vọng. Cái chết của lão không chỉ là bi kịch cá nhân mà còn là tiếng kêu đau đớn của tầng lớp nông dân bị áp bức. Qua đó, Ngô Tất Tố đã thể hiện thái độ lên án sâu sắc xã hội bất công, tàn nhẫn đối với người lao động nghèo.
