Đề bài: Viết đoạn văn trình bày suy nghĩ của bản thân về thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ.
Dàn ý Đoạn văn suy nghĩ về thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ
I. Mở đoạn
– Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: Hình tượng người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến.
II. Thân đoạn
a. Khái quát về người phụ nữ xưa
– Ngoại hình: nhuộm răng đen, mặc áo bà ba, áo nâu, áo tứ thân,… kín đáo; tóc búi cao.
– Tính cách và phẩm chất: công dung ngôn hạnh, luôn là người có đức hi sinh, một lòng vì chồng, theo chồng,…
– Quyền lợi: Không có nhiều quyền lợi, không được xã hội tôn trọng, bảo vệ, không có tiếng nói, không được tham gia vào những việc hệ trọng, quanh năm chỉ gắn liền với bếp núc, chịu đựng nhiều hủ tục lạc hậu,…
→ Không được tự quyết định cuộc đời, số phận của mình dẫn đến thiệt thòi.
→ Người phụ nữ ngày xưa là những người giàu đức tính quý báu nhưng lại chịu nhiều đau thương, có những cảnh ngộ khiến người đời sau phải đau lòng.
b. Thân phận người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến qua một số bài ca dao
Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai
– Người phụ nữ trong xã hội cũ không được lựa chọn số phận, cuộc đời, thậm chí là cả tấm chồng cho bản thân mình mà chỉ như món hàng để đợi người khác đến lựa, việc lấy chồng như một trò chơi may mắn mà người phụ nữ là người chịu hậu quả.
→ Bài ca dao là lời than trách, giãi bày nỗi lòng đau khổ của người phụ nữ với số phận của chính bản thân mình.
“Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều”
– “Chiều chiều”: hoạt động hằng ngày, thường xuyên, liên tục.
– “Ruột đau chín chiều”: nhấn mạnh, phóng đại nỗi nhớ da diết về quê mẹ.
Người phụ nữ “xuất giá tòng phu”, lấy chồng phải theo chồng, dù có tủi nhục, nhớ nhung cũng không được về với mẹ, về với nơi mình sinh ra dù trong lòng mong ngóng và luôn hướng về quê mẹ. → Thể hiện sự bất công của xã hội với người phụ nữ.
III. Kết đoạn
– Khái quát lại vấn đề nghị luận đồng thời rút ra bài học, liên hệ bản thân.

Đoạn văn suy nghĩ về thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ (Mẫu 1)
Thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam là một bi kịch của những con người tài sắc vẹn toàn nhưng không có quyền làm chủ số phận của mình. Họ bị trói buộc bởi những quan niệm khắt khe như “tam tòng, tứ đức”, phải sống phụ thuộc và hi sinh trọn đời cho người khác. Hình ảnh người phụ nữ hiện lên qua thơ Hồ Xuân Hương như chiếc bánh trôi “bảy nổi ba chìm”, hoàn toàn bị động trước dòng đời. “Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn” – số phận họ do kẻ khác định đoạt. Dù vậy, họ vẫn giữ vững “tấm lòng son” – phẩm giá cao đẹp và sự thủy chung. Trong cuộc mưu sinh, họ là những người vợ tảo tần như trong thơ Tú Xương, “quanh năm buôn bán ở mom sông” để “nuôi đủ năm con với một chồng”. Gánh nặng gia đình đè lên đôi vai nhỏ bé, nhưng họ không một lời oán thán. Đau đớn hơn, họ còn phải chịu cảnh làm lẽ mọn, chia sẻ hạnh phúc không trọn vẹn. Hồ Xuân Hương đã phải thốt lên đầy chua xót: “Chém cha cái kiếp lấy chồng chung!”. Như lời Nguyễn Du khái quát: “Đau đớn thay phận đàn bà/Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung” – đó là số phận chung của phụ nữ thời ấy. Dù cuộc đời nhiều bất công, sóng gió, nhưng ở họ vẫn luôn tỏa sáng những vẻ đẹp đáng trân trọng: đức hi sinh, lòng chung thủy và sự kiên cường vượt lên hoàn cảnh. Họ chính là hiện thân của cái đẹp bị vùi dập nhưng không bao giờ tắt lụi.
Đoạn văn suy nghĩ về thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ (Mẫu 2)
Những người phụ nữ, một nửa của thế giới luôn có những vai trò quan trọng, nhất định trong cuộc sống và xã hội từ xưa đến nay. Thế nhưng không phải lúc nào những vai trò ấy cũng được mọi người trong xã hội công nhận và trân trọng, chúng ta có thể thấy rõ ràng điều này qua hình ảnh người phụ nữ xưa và nay. Trong xã hội phong kiến, khi đạo Khổng còn giữ vai trò quan trọng trong nền giáo dục nước nhà nó còn mặt hạn chế lớn nhất là xem thường vai trò, vị trí của những người phụ nữ, coi họ là tầng lớp thấp hơn trong xã hội cho dù có là con cái trong hoàng tộc hay gia đình giàu sang đi chăng nữa. Từ đó trong suốt thời kì phong kiến, quan niệm “trọng nam khinh nữ” đã ăn sâu vào tiềm thức tất cả người dân Việt Nam ta. Những người phụ nữ không được phép đến trường, không được phép học chữ, học văn, không được phép đặt chân đến những nơi tôn nghiêm như văn miếu và hơn cả là tương lai, cuộc đời của họ cũng không do họ tự do định đoạt mà là “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, khi một người con gái đến tuổi cập kê thì việc lựa chọn đấng lang quân sẽ do cha mẹ quyết định chứ không được quyền tự do yêu đương. Số phận của họ thật bạc bẽo, đáng thương. Thời gian dần trôi đi, xã hội phong kiến cũ và chiến tranh đã sớm lùi xa nhường chỗ lại cho một xã hội mới hiện đại, tân tiến hơn. Xã hội thay đổi kéo theo những chuẩn mực trong xã hội đã thay đổi nhiều so với trước kia, một trong số đó phải kể đến quan niệm về vai trò của người phụ nữ trong xã hội. So với thế hệ trước thì bây giờ những người phụ nữ đã được đến trường học như nam giới và có thể làm bất kì công việc nào mà mình yêu thích chứ không bị cấm cản như trước nữa. Điển hình trong xã hội hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp được điều hành bằng những nữ doanh nhân và nhiều vị trí quan trọng trong nhà nước và bộ máy chính quyền cũng do phụ nữ đảm nhiệm. Nếu không có phụ nữ, thế gian này sẽ chẳng thể hoàn hảo được như nó vốn có, vì vậy mà vai trò của người phụ nữ trong xã hội là không một ai có thể phủ nhận và chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng theo sự thay đổi của thời gian thì giờ đây, vị thế của người phụ nữ đã được đặt vào đúng vị trí mà họ xứng đáng được hưởng.
