Đề bài: Viết đoạn văn thuyết minh về cây tre Việt Nam
Dàn ý Đoạn văn thuyết minh về cây tre Việt Nam
I. Mở đoạn
– Giới thiệu khái quát về cây tre.
II. Thân đoạn
a. Nguồn gốc của cây tre
– Cây tre đã có từ lâu đời, gắn bó với người dân Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử.
– Tre xuất hiện cùng bản làng trên khắp đất Việt, đồng bằng hay miền núi…
b. Các loại tre
– Tre có nhiều loại: tre Đồng Nai, nứa, mai, vầu Việt Bắc, trúc Lam Sơn, tre ngút ngàn rừng cả Điện Biên, và cả lũy tre thân thuộc đầu làng…
c. Đặc điểm của cây tre
– Tre không kén chọn đất đai, thời tiết, mọc thành từng lũy, khóm bụi.
– Ban đầu, tre là một mầm măng nhỏ, yếu ớt; rồi trưởng thành theo thời gian và trở thành cây tre đích thực, cứng cáp, dẻo dai.
– Thân tre gầy guộc, hình ống rỗng bên trong, màu xanh lục, đậm dần xuống gốc. Trên thân tre còn có nhiều gai nhọn.
– Lá tre mỏng manh một màu xanh non mơn mởn với những gân lá song song hình lưỡi mác.
– Rễ tre thuộc loại rễ chùm, cằn cỗi nhưng bám rất chắc vào đất → giúp tre không bị đổ trước những cơn gió dữ.
– Cả đời cây tre chỉ ra hoa một lần và vòng đời của nó sẽ khép lại khi tre “bật ra hoa”…
d. Vai trò và ý nghĩa của cây tre đối với con người Việt Nam
∗ Trong lao động
– Tre giúp người trăm công nghìn việc, là cánh tay của người nông dân.
– Làm công cụ sản xuất: cối xay tre nặng nề quay.
∗ Trong sinh hoạt
– Bóng tre dang rộng, ôm trọn và tỏa bóng mát cho bản làng, xóm thôn. Trong vòng tay tre, những ngôi nhà trở nên mát mẻ, những chú trâu mới có bóng râm để nhởn nhơ gặm cỏ, người nông dân say nồng giấc ngủ trưa dưới khóm tre xanh…
– Dưới bóng tre, con người giữ gìn nền văn hóa lâu đời, làm ăn, sinh cơ lập nghiệp.
– Tre ăn ở với người đời đời kiếp kiếp:
+ Khi chưa có gạch ngói, bê tông, tre được dùng để làm những ngôi nhà tre vững chãi che nắng che mưa, nuôi sống con người.
+ Tre làm ra những đồ dùng thân thuộc: từ đôi đũa, rổ rá, nong nia cho đến giường, chõng, tủ…
+ Tre gắn với tuổi già: điếu cày tre.
+ Đối với trẻ con ở miền thôn quê thì tre còn có thể làm nên những trò chơi thú vị, bổ ích: đánh chuyền với những que chắt bằng tre, chạy nhảy reo hò theo tiếng sao vi vút trên chiếc diều cũng được làm bằng tre…
∗ Trong chiến đấu
– Tre là đồng chí…
– Gậy tre, chông tre chống lại sắt thép quân thù.
– Tre xung phong… giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh…
– Tre hi sinh để bảo vệ con người
III. Kết đoạn
– Khẳng định lại giá trị to lớn của cây tre trong văn hóa Việt Nam.
– Nêu cảm nhận của bản thân về cây tre.

Đoạn văn thuyết minh về cây tre Việt Nam (Mẫu 1)
Tre xanh, xanh tự bao giờ
Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh
Từ câu thơ trên, ta có thể thấy rằng cây tre là một trong những loài cây gắn bó lâu đời nhất với người Việt Nam. Dù chưa có tài liệu xác minh cụ thể cây tre xuất hiện vào năm nào nhưng dựa vào các truyện cổ tích, ca dao dân ca và các sản phẩm văn hóa truyền thống của dân tộc ta thì chắc chắn cây tre đã tồn tại từ hàng ngàn năm trước. Bất cứ đâu trên đất nước ta, tre cũng xuất hiện. Về cấu tạo khoa học, tre thuộc loài cây thân cỏ có cấu trúc thân khá đặc biệt. Rễ tre là loại rễ chùm và mọc ra từ thân ngầm của tre giúp hút chất dinh dưỡng nuôi thân. Số lượng rễ này có thể biến đổi theo điều kiện đất và kích thước, tuổi của cây tre. Thân tre được chia làm hai phần là cổ thân ngầm và thân trên mặt đất. Phần thân ngầm ở trong đất, là nơi các măng mọc ra. Phần thân trên mặt đất có thể cao lên tới 20 m, đường kính từ 1 – 25 cm, có dạng hình ống tròn. Lá tre chính là cơ quan quang hợp của cây tre, gồm hai phần là bẹ lá, phiến lá. Phần bẹ lá thường dài, có hình lòng máng, gắn chặt vào cành. Phần phiến lá thì có 3 – 5 đôi gân lá song song. Và cuối cùng, phần ít được biết đến nhất của cây tre chính là hoa tre. Hoa gồm bao hoa, nhị và nhụy của tre có thể kết thành quả như lúa. Tuy tre là một trong những loại cây phát triển nhanh nhất thế giới nhưng hoa của chúng chỉ đến khi gần về cuối đời mới nở nên nhiều người cả đời không được nhìn thấy loại hoa này. Cây tre có hơn 1000 loài và phân bố chủ yếu ở các nước nhiệt đới. Chúng thường mọc thành bụi, thành chùm, hiếm khi mọc riêng lẻ. Ở nước ta, tre có mặt từ miền Nam đến miền Bắc. Có nhiều tỉnh ở nước ta hiện nay vẫn có trữ lượng tre lớn như Nam Định, Thái Bình, Thanh Hóa, Hòa Bình và nhiều nơi khác. Nói đến lợi ích của tre, ta phải dành cho loài cây này sự ngợi ca và những lời khen tặng. Tre gắn bó với con người, làng xóm Việt Nam. Tre vừa là vật liệu xây dựng, vừa có thể trở thành đồ dùng hằng ngày. Thậm chí, tre còn góp phần làm phong phú nền ẩm thực nước nhà với những món cơm lam trong ống tre, bánh chưng xanh. Trong kháng chiến, tre trở thành vũ khí xông pha trận mạc, bảo vệ bộ đội ta và đánh đuổi kẻ thù. Không chỉ vậy, về mặt tinh thần, tre còn đại diện cho khí tiết thanh cao, tinh thần bất khuất kiên trung của người Việt ngàn đời. Đúng như nhà văn Thép Mới từng ngợi ca: “Ngày mai, trên đất nước này, sắt, thép có thể nhiều hơn tre, nứa. Nhưng, trên đường trường ta dấn bước, tre xanh vẫn là bóng mát. Tre vẫn mang khúc nhạc tâm tình. Tre sẽ càng tươi những cổng chào thắng lợi. Những chiếc đu tre vẫn dướn lên bay bổng. Tiếng sáo diều tre cao vút mãi”. Cây tre với nhiều ý nghĩa như vậy sẽ mãi mãi song hành cùng sự phát triển của đất nước và con người Việt Nam.
Đoạn văn thuyết minh về cây tre Việt Nam (Mẫu 2)
Từ thuở xa xưa, cây tre đã trở thành người bạn thân thiết trong đời sống của người Việt Nam. Tre hiện diện ở khắp mọi miền đất nước, âm thầm gắn bó với con người từ nông thôn đến miền núi, từ làng quê đến ven sông, ven ruộng. Tre là loài thực vật thân gỗ mọc thành bụi, thân thẳng và được chia thành nhiều đốt, trung bình khoảng ba mươi đốt mỗi cây. Từ gốc tre sẽ mọc ra những chồi non gọi là măng. Thân tre rỗng ruột, bên trong có màu trắng, và khi trưởng thành có thể cao tới mười mét. Đặc biệt, tre cũng có hoa, nhưng chu kỳ nở hoa rất dài, khoảng năm mươi đến sáu mươi năm nên không phải ai cũng có cơ hội được chiêm ngưỡng. Hoa tre có màu vàng nhạt và hương thơm hơi nồng. Ở Việt Nam, tre mọc nhiều nhất ở các vùng nông thôn và phân bố rộng rãi ở các tỉnh như Thái Bình, Nam Định, Hòa Bình, Bắc Giang, Thanh Hóa,… Nhờ đặc tính dễ trồng và mang lại nhiều lợi ích, tre từ lâu đã trở thành biểu tượng quen thuộc của nông thôn Việt Nam. Cây tre đem lại rất nhiều công dụng hữu ích trong đời sống. Thân tre nhẹ, bền và chắc nên được dùng để dựng nhà, làm cầu, làm hàng rào và chế tác nhiều sản phẩm thủ công mỹ nghệ tinh xảo. Lá tre ngày xưa từng được dùng làm giấy viết, đồng thời còn là vị thuốc dân gian giúp thanh nhiệt, hạ sốt. Hoa tre ở một số vùng còn được chế biến thành các món ăn như canh, xào, chiên hoặc nấu chè, mang hương vị đặc trưng và độ ngọt tự nhiên. Không chỉ có giá trị vật chất, cây tre còn gắn liền với đời sống tinh thần và lịch sử của dân tộc Việt Nam. Hình ảnh Thánh Gióng nhổ bụi tre đánh giặc Ân đã khắc sâu trong tâm trí bao thế hệ. Trong những giai đoạn gian khó của đất nước, tre tiếp tục trở thành vũ khí chiến đấu: chông tre, gậy tre, cung tên từ tre góp phần bảo vệ quê hương. Tre cũng tượng trưng cho nét đẹp hiền hòa, mộc mạc của làng quê, là biểu tượng cho ý chí kiên cường, bất khuất của con người Việt Nam. Từ những lợi ích thiết thực đến ý nghĩa tinh thần sâu sắc, có thể thấy cây tre giữ vai trò quan trọng trong đời sống người Việt. Dù xã hội ngày càng hiện đại, tre vẫn mãi là hình ảnh thân thương, gợi nhớ về những miền quê thanh bình, yên ả và những đức tính tốt đẹp của người dân Việt Nam
